Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2005

Diện mạo của ngành công nghiệp báo chí sẽ thay đổi?


Sự thay đổi đó đang dần rõ nét ở Mỹ, nơi có nền báo chí phát triển nhất và cũng nhạy cảm nhất. Theo nhiều điều tra xã hội học mới đây, việc kết nối Internet băng thông rộng ngày càng phổ biến khiến việc phát hành báo trực tuyến trở nên dễ dàng hơn, khả năng thu lợi nhuận cũng cao hơn. Một yếu tố quan trọng nữa là sự già đi của lớp độc giả truyền thống và nhu cầu mới của lớp người tiêu thụ thông tin kế cận. Bản thân những người làm báo truyền thống cũng tin rằng, trong 10 năm tới, mạng Internet sẽ là tương lai của báo chí.

1 nhận xét:

  1. Báo in cho đến gần đây mới ý thức được tiềm năng của Internet.

    “Chúng ta phải thoát khỏi lối suy diễn cảm tính để nhìn nhận xu hướng và nhu cầu của độc giả”, Ben Macklin, chuyên gia phân tích của eMarketer nói. “Nội dung thông tin trên Internet vẫn tồn tại và sẽ tồn tại. Công chúng sẽ chấp nhận nó. Vấn đề của chúng ta là tìm cách dung hòa với nó chứ không phải cạnh tranh với nó. Một vấn đề sống còn nữa là làm thế nào để kiếm tiền từ nó. Nhiều phương pháp đã được thử nghiệm, cái thành công, cái thất bại. Đương nhiên, vì đó là kinh doanh! Nhiều công ty truyền thông đã thay đổi mọi thứ một cách cực đoan đến mức phản tác dụng. Nên nhớ chúng ta vẫn còn đang dò dẫm trên con đường tìm thấy lợi nhuận từ truyền thông trực tuyến. Chúng ta đang chơi trò đánh cược. Mọi thứ vẫn chưa rõ ràng”.

    Cho đến nay, nhiều tờ báo trực tuyến lão làng nhất cũng chưa xác lập được một chỗ đứng vững chắc. Hai trong số những trang thông tin có thâm niên nhất là Suck và Feed đã phải đóng cửa vì thiếu kinh phí. Industry Standard, trang chuyên thông tin về thế giới công nghệ cao của Mĩ, đã đóng cửa. Red Herring, đối thủ của Industry Standard cũng đã ngừng hoạt động. Salon, tờ tạp chí trực tuyến đầu tiên đã lỗ gần 80 triệu đô la kể từ khi thành lập vào giữa những năm 90. Stale, một thành viên của Microsoft không tiết lộ tình hình tài chính của mình. Tuy nhiên một người phát ngôn của tờ này cho hay, trong suốt 4 năm qua, trang web này đã sống nhờ vào doanh thu quảng cáo.

    Một số tờ báo cố gắng đem lại doanh thu từ việc thu phí thành viên nhưng không mang lại hiệu quả. Mặc dù Salon có tới 3 triệu độc giả nhưng chỉ có 20.000 người chấp nhận đăng ký có phí. Wall Street Journal có lẽ là tờ thành công nhất với 664.000 độc giả đăng ký với mức phí 79 USD/năm. Financial Times gần đây cũng đã chuyển sang hình thức đăng ký thu phí 6,95USD/tháng cho một số dịch vụ thông tin đặc biệt; và tờ Economist có 140.000 độc giả với mức phí 19,95USD/tháng.

    "Rốt cục người đọc cũng sẽ trả tiền cho thông tin nếu nó mang lại tiền hoặc tiết kiệm tiền cho họ, hoặc có lợi ích đối với công việc hay sở thích của họ", Richard Gordon, chuyên gia về truyền thông trực tuyến của Trường đại học Northwestern nói.

    So với báo in, báo trực tuyến có lượng độc giả rất ấn tượng. Theo giám đốc PR của tờ Slate, tờ này có 5 triệu độc giả thường xuyên. Không một tờ báo nào của Mĩ đạt được con số này. Tờ USA today, tờ báo bán chạy nhất nước Mĩ cũng chỉ phát hành được 2,13 triệu bản. Tờ Wall Street Journal, 1,8 triệu bản. Tờ New York Times, 1,11 triệu bản. Tờ Washington Post phát hành được 780.000 bản trong khi bản trực tuyến của tờ này có tới 6 triệu độc giả truy cập 1 tháng.

    Rất nhiều trong số các độc giả xem báo vào buổi sáng, sau đó truy cập mạng thường xuyên để cập nhật tin tức trong ngày, đặc biệt là khi chiến tranh Iraq trở nên căng thẳng. Tờ báo trực tuyến Asia Online cho biết lượng độc giả của từ này tăng chóng mặt, từ con số 26.000 người trong tháng giêng, tăng lên đến 42.000 trong tháng 3 và tới 65.000 trong tháng 4/2003.

    Christine Mohan, giám đốc PR của tờ New York Times cho hay những độc giả của mạng Internet đã tăng từ 1,1 triệu tới trên 2 triệu chỉ trong vài tuần khi chiến tranh leo thang. Cũng tương tự với tờ Washington Post, độc giả trong và ngoài nước của Times chủ yếu là những người không mua bản in.

    Như vậy, mặc dù tờ báo in chỉ là báo địa phương, nhưng bản trực tuyến của nó lại có tầm cỡ quốc gia hoặc quốc tế. Điều đó sẽ đáng giá đối với các nhà quảng váo. Dù là trên phương tiện nào, quảng cáo luôn là nguồn tài chính đáng kể. Tờ New York Times gần đây đã tuyên bố sẽ thử nghiệm quảng cáo với diện tích lớn tới nửa trang báo trực tuyến. Các nhà quảng cáo cũng nhận thấy rằng, không giống như báo in, họ không những có thể tập trung vào những đối tượng độc giả xác định mà còn có thể tiếp cận với họ vào những khoảng thời gian nhất định trong ngày hoặc trong tuần. Chẳng hạn tờ Salon chạy một quảng cáo cho một loại bia vào ngày thứ 6 hàng tuần. Đây là thời điểm kết thúc tuần làm việc và mọi người chuẩn bị cho kỳ nghỉ, một thời gian lý tưởng để uống bia!

    “Các nhà quảng cáo bắt đầu hiểu ra rằng Internet đã trở thành một phần của cuộc sống mà báo in không thể cạnh tranh được. Tờ New York Times đã cung cấp thông tin về các buổi trình diễn thời trang ở Paris, tường thuật trực tiếp những màn trình diễn”, ông Patrick Hurley của tờ Salon nói.

    Báo in và truyền hình không phải là phương tiện thích hợp cho những quảng cáo tương tác. Đó là thế mạnh đặc biệt của Internet. Mặt khác, quảng cáo trên báo trực tuyến cũng là một phần của nội dung thông tin nên phải được truyển tải theo cách mà người đọc muốn.

    Một ví dụ hay là quảng cáo trên tờ Slate mới đây. Mục du lịch của tờ này có bài giới thiệu về tour du lịch qua 3 nước Scandinavi. Bài báo này có kèm một quảng cáo cho xe Volvo, hãng xe của Thuỵ Điển. Bằng cách click vào quảng cáo, người xem có thể lướt xem những mẫu xe mới nhất của Volvo. Thậm chí họ có thể lái thử một mẫu xe và được hướng dẫn chi tiết cách đặt mua một chiếc .

    Một quảng cáo thú vị khác tại trang web www.porschecayenne.com. Người đọc có thể nghe thử một đĩa nhạc với âm thanh đa chiều. Các quảng cáo du lịch còn cho phép người dùng tham gia tour du lịch ảo tới các khu nghỉ mát, xem xét các phòng nghỉ trong khách sạn (mặc dù có khuyến cáo là trên mạng, những căn phòng này trông nhỏ hơn kích thước thật). Truyền hình cũng không thể có được một quảng cáo tương tự. Mặt khác, loại quảng cáo này còn cho phép xem khi rảnh rỗi thay vì cắm mặt vào màn hình TV.

    Đối với báo trực tuyến, lượng độc giả có thể tăng chóng mặt trong khi lượng phát hành của báo in thay đổi không đáng kể. Trong số 20 tờ báo có lượng phát hành lớn nhất nước Mĩ thì chỉ 3 tờ có mức phát hành tăng trên 2%/năm.

    Giới truyền thông bắt đầu hiểu rằng độc giả ngày càng có xu hướng kết hợp đọc báo in với truy cập internet. Trong những trường hợp đặc biệt như chiến tranh Iraq hay vụ scandal tình ái giữa Bill Clinton và Monica Lewinsky, hầu hết các tòa báo đều công bố thông tin lên báo trực tuyến trước chứ không đợi bản in.

    Ngành công nghiệp báo in ở Mĩ đang chết dần theo đúng nghĩa đen. Chúng chưa biến mất ngay, thậm chí một số tờ báo hay nhất vẫn tiếp tục phát triển. Nhưng lớp độc giả báo in già đang mất dần và không lớp kế cận. Theo Hazel Reinhardt, một nhà tư vấn ở Minneapolis chuyên về nghiên cứu thị trường và phân tích nhân khẩu học, thì 70% những người sinh trước năm 1946 có đọc báo in ít nhất 1 ngày trong tuần. Đối với giới trẻ thì con số đó chỉ còn là 58%. Với những người được coi là giới trẻ sành điệu thì chỉ còn có 46%.

    Đáng chú ý là kết quả của một điều tra khác đối với những người có quyền quyết định của tờ báo, 46% số người đứng đầu tờ báo chuyên về kinh tế cho biết trong 15 năm tới, báo của họ sẽ chỉ phát hành trên mạng. 25% những người làm việc cho các tạp chí cũng tin như vậy. Tính chung, 12% số người được hỏi tin rằng báo của họ sẽ chỉ phát hành trên mạng trong vòng 5 năm tới. 20% hy vọng điều đó sẽ xảy ra trong vòng 10 năm.

    Ông Cauthorn của tờ San Francisco Chronicle không mong muốn báo in sẽ chết nhưng mong muốn sẽ có sự thay đổi. Chẳng hạn ông cho rằng một số tờ nên ngừng ra báo in từ thứ 2 đến thứ 4 hoặc thứ 5 vì báo in trong những ngày này sẽ không có lợi nhuận. Tuy nhiên, nên phát hành báo vào thứ 6 tập trung vào lĩnh vực giải trí, phát hành báo thứ 7 tập trung cho kinh doanh bất động sản và quảng cáo xe hơi. Ngày chủ nhật nên phát hành báo tổng hợp vì độc giả sẽ ít bận rộn vì công việc và có nhiều thời gian hơn để “nhấm nháp” tờ báo lúc rảnh rỗi.

    Hiện nay, thế hệ trẻ đọc báo ngày ít đi và không có bằng chứng nào chứng tỏ tỉ lệ đọc báo sẽ tăng lên theo tuổi của các độc giả. Tuổi trung bình của các độc giả báo in ở Mĩ hiện nay là 46. Nhiều tờ báo ở Mỹ đã tài trợ cho các chương trình đọc báo của sinh viên. Tuy nhiên, rất ít trường khuyến khích thói quen đọc báo trong học sinh, sinh viên. Ngược lại, ở Mĩ và rất nhiều nước công nghiệp phát triển khác như Singapore, nhà trường lại tích cực khuyến khích các lớp học vi tính!

    Ở Mĩ người ta ước tính hơn 80% số người có độ tuổi từ 18-24 ở các trung trường học hoặc cao hơn có máy tính ở nhà, trong đó 68% có nối mạng. Nếu tính riêng số học sinh, sinh viên, 86% có sử dụng internet, trong khi tính chung toàn bộ dân số Mỹ, chỉ 59% có sử dụng Internet.

    Đây là thế hệ có lẽ sẽ không bao giờ đọc báo in. Nhưng đó lại là thế hệ sẽ dùng internet cho mọi công việc, bao gồm cả việc đọc.
    (hocbao.com)

    Trả lờiXóa

nhudinhthuan@gmail.com